MyLabel

Phân biệt giá trị sản xuất và giá trị tăng thêm

9/3/2019

Phần lớn người sử dụng thông tin thống kê đều quan tâm số liệu các chỉ tiêu kinh tế tổng hợp như: Tổng sản phẩm trên địa bàntỉnh, vùng - GRDP (Gross Regional Domestic Product); giá trị sản xuất - GO (Gross Output) và giá trị tăng thêm - VA (Value Added).

GRDP là giá trị mới của hàng hóa và dịch vụ được tạo ra của toàn bộ nền kinh tế trong một khoảng thời gian nhất định. Theo phương pháp sản xuất, GRDP bằng tổng giá trị tăng thêm của tất cả các ngành kinh tế tính theo giá cơ bản, cộng với thuế sản phẩm, trừ đi trợ cấp sản phẩm.

Giá trị tăng thêm là giá trị hàng hóa và dịch vụ mới sáng tạo ra của các ngành kinh tế trong một thời kỳ nhất định; là một bộ phận của giá trị sản xuất; bằng chênh lệch giữa giá trị sản xuất và chi phí trung gian.

Giá trị sản xuất là giá trị hàng hóa và dịch vụ tạo ra của các ngành kinh tế trong một thời kỳ nhất định.

Chi phí trung gian - IC (Intermediate Consumption)là một bộ phận cấu thành của giá trị sản xuất, bao gồm toàn bộ chi phí về sản phẩm vật chất và dịch vụ đã tiêu dùng cho sản xuất được hạch toán vào giá thành sản phẩm.

Các thuật ngữ nói trên được ngành Thống kê giới thiệu, phổ biến cùng với việc cung cấp thông tin thống kê; nhất là trong các ấn phẩm Niên giám thống kê hàng năm. Tuy nhiên, nếu không đi sâu nghiên cứu khái niệm, phương pháp tính thì người sử dụng thông tin thống kê khó phân biệt được các chỉ tiêu.Đặc biệt làkhông ít người còn nhầm lẫn giữa giá trị sản xuất và giá trị tăng thêm; chỉ khác nhau giữa cụm từ “tạo ra” trong khái niệm giá trị sản xuất và cụm từ “mới sáng tạo ra”trong khái niệm giá trị tăng thêm.

Hầu hết người sử dụng thông tin thống kê đều đã từng học Kinh tế chính trị học Mác - Lênin (viết gọn Kinh tế chính trị) nên xin giới thiệu cách tiếp cận chỉ tiêu giá trị sản xuất và giá trị tăng thêmdựa trên cơ sở kiến thức Kinh tế chính trị nhằm giúp cho việc hiểu, phân biệt các chỉ tiêu được dễ dàng hơn; từ đó sử dụng thông tin thống kê chính xác, hiệu quả hơn.

Trong Kinh tế chính trị, chắc nhiều người đã quen thuộc với công thức cấu tạo lượng giá trị hàng hóa là C + V + M hay C1 + C2 + V + M; giá trị mới của hàng hóa là V + M. Trong đó:

+ C: Chi phí về lao động quá khứ, gồm C1 là giá trị khấu hao tài sản cố định; C2 giá trị nguyên nhiên vật liệu đã tiêu dùng;

+ V: Chi phí về lao động sống;

+ M: Giá trị thặng dư.

Hệ thống bảng cân đối vật chất- MPS (Material Product System) áp dụng ở các nước có nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung trước đây, Việt Nam sử dụng hạch toán từ năm 1957 - 1992, được xây dựng dựa trên cơ sở Kinh tế chính trị với quan điểm cơ bản là chỉ có các ngành sản xuất vật chất mới sáng tạo ra giá trị và giá trị sử dụng; vì vậy trong C2 không có yếu tố “giá trị dịch vụ đã tiêu dùng”. Các chỉ tiêu kinh tế tổng hợp hạch toán theo MPSgần với Kinh tế chính trị, đó là:

- Giá trị sản lượng (tương tự như giá trị sản xuất hiện nay nhưng không tính cho các sản phẩm phi vật chất và dịch vụ) là giá trị hàng hóa, tức bằng C + V + M hay C1 + C2 + V + M.

-Thu nhập thuần túycủa các ngành kinh tế (tương tự như giá trị tăng thêm hiện nay nhưng không bao gồm khấu hao tài sản cố định và chỉ tính cho các sản phẩm vật chất) là giá trị mới, tức bằng V + M.

- Tổng thu nhập quốc dân sản xuất (được thay tế bằng GDP hay GRDP hiện nay) bằng tổng thu nhập thuần túy của toàn bộ nền kinh tế.

Từ năm 1993,Việt Nam sử dụng phương pháp hạch toán của Hệ thống tài khoản quốc gia -SNA (System of National Accounts) trong nền kinh tế. SNA áp dụng ởcác nước có nền kinh tế thị trường, được xây dựng trên cơ sở các học thuyết kinh tế thị trường với luận điểm cơ bản là tất cả các ngành sản xuất ra sản phẩm vật chất, sản phẩm phi vật chất và dịch vụ đều sáng tạo ra giá trị và giá trị sử dụng; đồng thời xemgiá trị khấu hao tài sản cố định là “giá trị mới sáng tạo ra” chứ không phải “chi phí về lao động quá khứ” như MPS.

Với cơ sở lý luận trên, có thể biểu diễn chỉ tiêu giá trị sản xuất và giá trị tăng thêm theo công thức cấu tạo lượng giá trị hàng hóa trong Kinh tế chính trị:

- Giá trị sản xuất: GO = C1 + C2 + V + M;

- Giá trị tăng thêm: VA = C1 + V + M.

Như vậy,VA khác GO; VA chỉ là bộ phận “mới sáng tạo ra” trong GO, bằng GO loại trừ đi chi phí về vật chất và chi phí dịch vụ đã sử dụng để tạo ra GO (tức trừ đi C2). Tuy nhiên, cần áp dụng các công thức trên theo quan điểm của SNA, đó là:

- Tính cho tất cả các ngành sản xuất ra sản phẩm vật chất, sản phẩm phi vật chất và dịch vụ.

- Chi phí trung gian (IC = C2) là toàn bộ chi phí thường xuyên về vật chất (không kể khấu hao tài sản cố định) và chi phí dịch vụ (gồm dịch vụ vật chất và dịch vụ phi vật chất) đã được sử dụng trong quá trình tạo ra của cải vật chất và hoạt động dịch vụ; mở rộng hơn quan điểm của MPS là có cả chi phí dịch vụ.

- Giá trị thặng dư (M) bao gồm phần cho doanh nghiệp và cho xã hội; tức lợi nhuận, thuế sản xuất (không bao gồm thuế sản phẩm) và các khoản quy định thuộc về thặng dư sản xuất.

Do hệ số chi phí trung gian hay tỷ lệ IC so với GO (HIC) và hệ số giá trị tăng thêm (HVA = 1 - HIC) của từng ngành kinh tế khác nhau; đồng thời VA được tính toán chi tiết đến các ngành kinh tế theo quy định để tổng hợp cho ngành kinh tế cấp cao hơn nên tốc độ tăng trưởng GO và VA của cùng một ngành kinh tế có thể khác nhau. Để giải thích vấn đế này, xin nghiên cứu ví dụ sau:

Có số liệu về giá trị sản xuất, chi phí trung gian, giá trị tăng thêm ngành nông lâm nghiệp và thủy sản(ngành cấp 1) của một tỉnh chi tiết đến ngành cấp 2:

Đơn vị tính: Triệu đồng

Năm trước năm báo cáo

Năm báo cáo

GO

IC

VA

GO

IC

VA

A

1

2

3=1-2

4

5

6=4-5

Tổng số

20.077.347

10.756.598

9.320.749

19.691.867

10.577.231

9.114.636

Nông nghiệp

17.649.115

8.976.839

8.672.276

17.193.342

8.744.911

8.448.431

Lâm nghiệp

109.617

42.344

67.273

109.925

42.463

67.462

Thủy sản

2.318.615

1.737.415

581.200

2.388.600

1.789.857

598.743

Từ số liệu trên ta có các kết quả tính toán theo bảng sau:

Đơn vị tính: %

Cơ cấu theo giá so sánh năm trước

Hệsố chi phí trung gian - HIC

Tăng trưởng năm báo cáo so với năm trước

GO

VA

Năm trước

Năm báo cáo

GO

VA

Tổng số

100,00

100,00

53,58

53,71

- 1,92

- 2,21

Nông nghiệp

87,90

93,04

50,86

50,86

- 2,58

- 2,58

Lâm nghiệp

0,55

0,72

38,63

38,63

+ 0,28

+ 0,28

Thủy sản

11,55

6,24

74,93

74,93

+ 3,02

+ 3,02

Bảng phân tích trên cho thấy:

- Cơ cấu theo ngành cấp 2 trong từng năm của GO và VA là khác nhau; là nhân tố làm cho tốc độ tăng trưởng hai chỉ tiêu của ngành cấp 1 khác nhau.

- Hệ số chi phí trung gian của từng ngành cấp 2 không thay đổi (quy định áp dụng hệ số vùng ổn định cho một số năm), của toàn ngành cấp 1tăng lên chủ yếu do ngành nông nghiệp có HIC thấp nhưng GO giảm; ngành thủy sản có HIC cao nhưng GO tăng.

- Tốc độ tăng trưởng GO và VA bằng nhau ở từng ngành cấp 2 do HIC không thay đổi. Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng GO và VA của ngành cấp 1 khác nhau do cơ cấu theo giá so sánh (chỉ có ý nghĩa cho phân tích, dự báo tăng trưởng; không sử dụng để đánh giá chuyển dịch cơ cấu) khác nhau; ngành nông nghiệp giảm và chiếm tỷ trọng trong VA lớn hơn trong GO nên làm cho VA giảm sâu hơn.

          Bùi Thiện Mẫn

Gửi bởi admin    

HỆ THỐNG TÊN MIỀN MẠNG GSO
MÁY CHỦ TÊN MIỀN .GSO:
Chính:       10.0.1.1
Dự phòng: 10.0.1.2
  • Góc người dùng
Tên đăng nhập:
Mật khẩu:



Bạn đang dùng -

IP:18.206.238.176

Thống kê

Lượt truy cập  5890
Đang trực tuyến   41

客户评价高口碑好丰胸方法,那才是你可以选择的美胸产品。此外粉嫩公主酒酿蛋丰胸方法,购买美胸产品时应该注意选择产品成分是纯植物性的丰胸产品,同时也要是适合自身体质的,因为纯植物类美胸产品比较安全,才是最简单便捷的丰胸方法产后丰胸方法