MyLabel

Tình hình kinh tế xã hội 6 tháng đầu năm 2019

7/1/2019

Tăng trưởng kinh tế

Tổng sản phẩm trên địa bàn(GRDP) 6 tháng đầu năm 2019tăng 5,79% so với cùng kỳ năm trước, trong đó nông lâm nghiệp và thủy sản tăng 1,89%,đóng góp 0,61 điểm phần trăm vào mức tăng chung; công nghiệp và xây dựng tăng 11,87%, đóng góp 1,85điểm phần trăm; dịch vụ  tăng 6,45%, đóng góp 2,82điểm phần trăm; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 6,08%, đóng góp 0,5điểm phần trăm. Tăng trưởng kinh tế 6 tháng đầu năm 2019 thấp hơn mức cùng kỳ năm trước 0,29điểm phần trăm.

 So với 6 tháng đầu năm 2018, tốc độ tăng GRDP 6 tháng đầu năm 2019 bị giảm 0,29 điểm phần trăm và chưa đạt được mục tiêu cả năm 2019 tăng 6,2% theo kế hoạch đề ra. Nguyên nhân chính là do:

- Tốc độ tăng trưởng của ngành nông nghiệp đạt khá thấp do bị ảnh hưởng bởi các yếu tố khách quan (thời tiết, giá cả, dịch bệnh trên cây trồng vật nuôi, ...); diện tích, năng suất lúavụ đông xuân giảm; ... dẫn đến kết quả sản xuất nông nghiệp không đạt kịch bản tăng trưởng đề ra.

- Các ngành dịch vụ tuy có tốc độ phát triển khá nhưng vẫn còn thấp hơn kỳ vọng tăng 7,2% theo kế hoạch đề ra; một số dịch vụ như vận tải kho bãi, dịch vụ lưu trú và ăn uống, kinh doanh bất động sản, thông tin truyền thông, giáo dục và đào tạo, … có tốc độ tăng thấp, đã kéo giảm tốc độ tăng trưởng của khu vực dịch vụ.

Cơ cấu kinh tế của tỉnh 6 tháng đầu năm 2019 tiếp tục có sự chuyển dịch đúng hướng nhưng tốc độ còn chậm, tỷ trọng khu vực I là 34,97%; khu vực II là 17,21%, khu vực III là 47,82%. So với cùng kỳ năm 2018, tỷ trọng khu vực I giảm 1,1 điểm phần trăm; khu vực II tăng 0,98 điểm phần trăm và khu vực III tăng 0,12 điểm phần trăm.

Sản xuất nông lâm nghiệp và thủy sản

Sản lượng lúa đông xuân đạt 345,7 nghìn tấn, giảm 7,04% so với cùng vụ năm trước do diện tích giảm 1,65%, năng suất giảm 5,48%. Nguyên nhân năng suất sụt giảm là do lúa vụ đông xuân năm nay sản xuất trong điều kiện thời tiết nắng nóng, lúa trổ sớm hơn bình thường, rầy nâu gây hại nhiều giai đoạn đòng trổ, ...

Màu vụ đông xuân gieo trồng được 22.949,4 ha, tăng 2,9% so với cùng vụ năm trước. Diện tích cả vụ tăng chủ yếu do rau các loại tăng 3,95%, trong đó nấm rơm tăng 52,19%; cây hằng năm khác tăng 20,25%, trong đó diện tích trồng cỏ voi tăng 24,79%; ... Riêng khoai lang giảm 0,03%; Ngô (bắp) giảm 5,8%; cói (lác) giảm 20,35%; …

Toàn tỉnh hiện có 57.196 ha cây lâu năm, tăng 4,17% so với cùng kỳ năm 2018; trong đó, cây dừa tăng 12,4%, cây cam tăng 5,2%, cây sầu riêng tăng 9%, cây bưởi tăng 1,1%, cây chôm chôm tăng 1,8%, … Sản lượng thu hoạch đạt 342.329 tấn, tăng 4,2% so cùng kỳ năm trước; trong đó, cây dừa thu hoạch được 63.026 tấn, tăng 3,3%, cây cam được 67.885 tấn, tăng 2%; cây sầu riêng được 14.026 tấn, tăng 3,6%; cây bưởi được 45.025 tấn, tăng 7,1%; cây chôm chôm được 19.7444 tấn tăng 4%; …

Từ đầu năm đến nay đã phát hiện 01 ổ dịch bệnh tai xanh và dịch tả trên heo (đã tiêu hủy 35 con heo bệnh); 03 ổ dịch cúm gia cầm H5N1 (đã tiêu hủy toàn bộ 4.200 con gà bệnh); riêng bệnh Dịch tả heo Châu Phi hiện đang diễn biến rất phức tạp, chưa đầy một tháng, tức là từ ngày 21/5/2019 đến ngày  16/6/2019 đã phát hiện 60 ổ dịch tả heo Châu Phi tại 60 hộ chăn nuôi của 23 xã, thuộc 06 huyện, thị xã, thành phố trong tỉnh (đã tiêu hủy toàn bộ 1.257 con heo bệnh).

Tại thời điểm 01/4/2019so cùng kỳ năm trước, đàn heo tăng 2,72%, đàn bò tăng 0,73%, đàn gia cầm tăng 4,84%, trong đó đàn gà tăng 5,29%. Sản lượng thịt heo hơi xuất chuồng tăng 4,09% so với cùng kỳ năm trước, thịt bò hơi tăng 1,12%, thịt gia cầm hơi tăng 4,22%.

Sản lượng thủy sản nuôi trồng và khai thác tăng 3,61% so với cùng kỳ năm trước; trong đó thủy sản nuôi trồng tăng 3,87%. Riêng sản lượng cá tra nuôi thâm canh tăng 4,82% so với cùng kỳ năm trước.

Sản xuất công nghiệp

Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp IIP tăng 13,74% so với cùng kỳ năm trước,trong đó ngành khai khoáng giảm 25,93%, đã tác động kéo giảm IIP chung 0,14 điểm phần trăm; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 13,7%, đóng góp 13,15 điểm phần trăm, đây là ngành có quy mô lớn nhất trong toàn ngành và tiếp tục tăng trưởng khá mạnh; ngành sản xuất, phân phối điện, khí đốt tăng 14,7%, đóng góp 0,44 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý nước thải, rác thải tăng 15,44%, đóng góp 0,29 điểm phần trăm.

Hầu hết các ngành công nghiệp có mức sản xuất tăng mạnh so với cùng kỳ như: Sản xuất sản phẩm thuốc lá gấp 2,06 lần cùng kỳ, sản xuất trang phục tăng 39,35%; sản xuất chế biến thực phẩm tăng 26,71%; sản xuất, truyền tải và phân phối điện tăng 15,21%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 18,62%; khai thác, xử lý và cung cấp nước tăng 13,66%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 5,11%; sản xuất đồ uống tăng 4,95%; chế biến gỗ và sản phẩm từ gỗ, tre, nứa tăng 4,05%; … Tuy nhiên, do khó khăn về nguồn nguyên liệu hoặc yếu thế cạnh tranh trên thị trường nên một số ngành có mức sản xuất trong 6 tháng giảm mạnh như: Sản xuất phương tiện vận tải khác giảm 44,11%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu giảm 24,68%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác giảm 20,38%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất giảm 10,53%; …

Đầu tư và xây dựng

Tổng số vốn đầu tư phát triển (theo giá hiện hành) ước thực hiện 6.602 tỷ đồng, đạt 47,84% chỉ tiêu cả năm 2019 và tăng 13,7% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực ngoài nhà nước đạt 4.574 tỷ đồng, tăng 5,33% so với cùng kỳ năm 2018, khu vực Nhà nước đạt 1.319 tỷ đồng, tăng 5,21%; đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 709 tỷ đồng, gấp 3,36 lần cùng kỳ. Có 09 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) được cấp phép mới với tổng số vốn 60 triệu USD; so với cùng kỳ năm trước, số dự án tăng 05, tổng số vốn đăng ký tăng 33,8 triệu USD.

Giá trị sản xuất xây dựng (giá so sánh năm 2010) tăng 5,52% so với cùng kỳ năm 2018; trong đó công trình nhà các loại tăng 5,77%, công trình kỹ thuật dân dụng tăng 4,62% và hoạt động xây dựng chuyên dụng tăng 3,47%.

Vận tải

So cùng kỳ năm trước, hành khách vận chuyển tăng 6,78%, hành khách luân chuyển tăng 11,98%, trong đó đường bộ tăng 6,8% về hành khách vận chuyển và tăng 12,1% về hành khách luân chuyển; hàng hóa vận chuyển tăng 7,64%, hàng hóa luân chuyểntăng 9,84%, trong đó đường bộ tăng 12,73% về hàng hóa vận chuyển và tăng 13,2% về hàng hóa luân chuyển; doanh thu vận tải tăng 9,1%,trong đó doanh thu vận tải hành khách tăng 8,34%, doanh thu vận tải hàng hóa tăng 9,91%, doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải tăng 8,27%.

Thương mại, dịch vụ và giá cả thị trường

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 12,25% so với cùng kỳ năm 2018; trong đó bán lẻ hàng hóa tăng 12,2%, dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 11,67%, du lịch lữ hành tăng 13,37% và dịch vụ khác tăng 13,41%. Nếu loại trừ biến động giá (bình quân 6 tháng đầu năm 2019 tăng 3,32% so với cùng kỳ) thì tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng thực tế tăng 8,64%.

So với cùng kỳ năm trước, khách lưu trútăng 9,93%; khách du lịch theo tour  tăng 11,51%, trong đó khách quốc tế tăng 10,82%; số ngày khách du lịch theo tour tăng 11,88%, trong đó số ngày khách quốc tế tăng 10,9%.

Tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 269,3 triệu USD, tăng 23,89% so với cùng kỳ năm trước; tổng giá trị nhập khẩu đạt 104,8 triệu USD, tăng 11,1%.

Sau 6 tháng CPI tăng 1,49%, thấp hơn tốc độ tăng CPI cùng kỳ 1,85 điểm phần trăm. CPI bình quân 6 tháng đầu năm 2019 tăng 3,32%, thấp hơn 1,45 điểm phần trăm so với số liệu tương ứng của năm 2018.

Tài chính - ngân hàng

Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn ước thực hiện 3.492 tỷ đồng, đạt 56,58% dự toán năm, tăng 15,38% so với cùng kỳ năm trước; trong đó, thu từ hoạt động xuất nhập khẩu được 570 tỷ đồng, đạt 56,16% dự toán năm, tăng 14,65%. Tổng chi ngân sách địa phương ước thực hiện 3.922 tỷ đồng, đạt 46,42% dự toán năm, tăng 12,1% so với cùng kỳ; trong đó chi thường xuyên thực hiện được 2.441 tỷ đồng, đạt 48,97% dự toán năm, tăng 9,66%.

So với số đầu năm, số dư nguồn vốn huy động tăng 7,22%, trong đó tiền gửi tiết kiệm tăng 8,77%; tổng dư nợ cho vay tăng 4,66%, trong đó dư nợ cho vay trung dài hạn tăng 3,17%; tỷ lệ nợ xấu chiếm 1,96% trên tổng dư nợ cho vay, giảm 0,12 điểm phần trăm.

Một số vấn đề xã hội

Trong 6 tháng đầu năm, tỷ lệ thất nghiệp của lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên ước tính là 2,3%, trong đó khu vực thành thị là 4,4% và khu vực nông thôn là 1,9%; tỷ lệ thiếu việc làm của lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên ước tính là 6,18%,  trong đó khu vực thành thị là 1,5% và khu vực nông thôn là 7%. 

Tổ chức tuyển sinh học nghề cho 15.535 người, trong đó đào tạo nghề cho 1.658 lao động nông thôn; giải quyết việc làm cho 15.668 lao động, trong đó có 735 lao động đi hợp tác có thời hạn ở nước ngoài.

Mưa to gió mạnh làm hư hỏng 54 căn nhà (trong đó thiệt hại hoàn toàn 11 căn nhà); thiệt hại 54,7 ha hoa màu (trong đó thiệt hại hoàn toàn 21,7 ha); sạt lở 88 điểm bờ bao với tổng chiều dài gần 2,8 km, ảnh hưởng 147 hộ dân; không thiệt hại về người, ước tổng thiệt hại tài sản trên 7,2 tỷ đồng. Chính quyền địa phương đã kịp thời hỗ trợ trên 3 tỷ đồng, đồng thời động viên, giúp đỡ hộ dân bị ảnh hưởng khắc phục hậu quả, ổn định đời sống và sản xuất.

Kết quả kỳ thi học sinh giỏi quốc gia năm học 2018 - 2019 đạt 10 giải; gồm 02 giải nhì, 02 giải ba và 06 giải khuyến khích; tăng 01 giải ba và 03giải khuyến khích so với năm học trước. Tổ chức thi tuyển sinh lớp 10 trung học phổ thông năm học 2019 -2020. Chuẩn bị và tổ chức tốt kỳ thi trung học phổ thông quốc gia năm 2019 đảm bảo nghiêm túc, an toàn, trung thực, khách quan và tạo thuận lợi nhất cho thí sinh.

Các cơ sở y tế công lập đã khám và điều trị bệnh cho hơn 1,7 triệu lượt người, đạt 59,83% kế hoạch năm, trong đó, khám bảo hiểm y tế chiếm 85,82%. Bệnh tiêu chảy giảm 57,94%, thủy đậu gấp 2,17 lần; sốt xuất huyết gấp 3 lần; quai bị giảm 18,5%; hội chứng tay - chân - miệng gấp 1,58 lần so với cùng kỳ năm trước. Riêng bệnh sốt rét, bệnh thương hàn và bệnh dịch hạch không phát sinh (cùng kỳ năm trước phát sinh 02 ca sốt rét và 04 ca thương hàn).

Phát hiện 52 ca nhiễm HIV, 11 ca nhiễm HIV chuyển sang giai đoạn AIDS và 07 ca AIDS tử vong. Lũy kế từ ca đầu tiên đến nay, toàn tỉnh đã phát hiện 3.038 ca HIV dương tính; trong đó có 1.607 ca đã chuyển sang giai đoạn AIDS và 832 ca AIDS đã tử vong.Từ đầu năm đến nay trên địa bàn tỉnh không xảy ra ngộ độc thực phẩm

Tập trung tuyên truyền, cổ động các nhiệm vụ chính trị trọng tâm. Tổ chức lễ kỷ niệm 89 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam và họp mặt mừng Xuân Kỷ Hợi năm 2019; Lễ hội đón giao thừa và các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục - thể thao mừng Đảng, mừng Xuân Kỷ Hợi năm 2019; Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019; kỷ niệm Lễ Giỗ Quốc tổ Hùng Vương; kỷ niệm 44 năm ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, thống nhất đất nước và 133 năm ngày Quốc tế Lao động; các hoạt động kỷ niệm 10 năm thành lập thành phố Vĩnh Long và đón nhận Huân chương Lao động hạng Ba; 129 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh và 50 năm thực hiện Di chúc của Người; 107 năm ngày sinh của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Hùng; ...

Tham dự các giải thể thao trẻ, vô địch cấp khu vực, toàn quốc và quốc tế đạt 102 huy chương các loại (28 vàng, 39 bạc và 35 đồng).

Tai nạn và va chạm giao thông đường bộso với cùng kỳ giảm 38 vụ, số người chết giảm 12, số bị thương giảm 59 người. Không xảy ra tai nạn giao thông đường thủy, so cùng kỳ năm 2018 giảm 01 vụ, thiệt hại tài sản giảm khoảng 650 triệu đồng.

Đã xảy ra 03 vụ cháy, không thiệt hại về người, thiệt hại tài sản khoảng 825 triệu đồng. So với cùng kỳ năm trước giảm 06 vụ cháy và 02 vụ nổ, số người chết giảm 02, số người bị thương giảm 02, thiệt hại tài sản giảm khoảng 7,14 tỷ đồng.

Thực hiện đầy đủ, kịp thời chế độ, chính sách đối với người có công. Đã tổ chức đưa 90 người có công tham quan Thủ đô Hà Nội, 809 người có công đi điều dưỡng tại các trung tâm điều dưỡng ở các tỉnh, thành phố khác. Trợ cấp khó khăn đột xuất cho 44 đối tượng người có công và thân nhân người có công với số tiền là 77,5 triệu đồng từ Quỹ Đền ơn đáp nghĩa; hỗ trợ xây dựng mới 181 căn nhà tình nghĩa với số tiền gần 9 tỷ đồng; sửa chữa 87 căn nhà với số tiền hơn 2 tỷ đồng. Đến nay, vận động Quỹ Đền ơn đáp nghĩa trên 4,87 tỷ đồng, đạt 81,23% kế hoạch năm.

Thực hiện tốt chính sách hỗ trợ các đối tượng bảo trợ xã hội,chính sách giảm nghèo bền vững, công tác bảo vệ và chăm sóc trẻ em./.

* Nguồn: Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm năm 2019, Cục Thống kê tỉnh Vĩnh Long.

* Chi tiết xem tệp đính kèm: Tải về

Gửi bởi admin    

HỆ THỐNG TÊN MIỀN MẠNG GSO
MÁY CHỦ TÊN MIỀN .GSO:
Chính:       10.0.1.1
Dự phòng: 10.0.1.2
  • Góc người dùng
Tên đăng nhập:
Mật khẩu:



Bạn đang dùng -

IP:18.208.186.19

Thống kê

Lượt truy cập  51981
Đang trực tuyến   12