MyLabel

Tình hình kinh tế xã hội năm 2018

12/28/2018

Kinh tế - xã hội Việt Nam năm 2018 có nhiều chuyển biến tích cực, kinh tế vĩ mô ổn định, tăng trưởng kinh tế tốt và có sự gắn kết với việc cơ cấu lại nền kinh tế, nhiều chính sách đổi mới, cải cách - thủ tục hành chính và các lĩnh vực khác trong nước tiếp tục phát huy hiệu quả, môi trường kinh doanh tiếp tục được cải thiện, an sinh xã hội được bảo đảm, an ninh trật tự được giữ vững, ...

Riêng đối với tỉnh Vĩnh Long, mặc dù còn gặp nhiều khó khăn nhưng dưới sự chỉ đạo điều hành quyết liệt của của Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân và Hội đồng nhân dân tỉnh, sự nỗ lực phấn đấu của các cấp, các ngành trong việc tập trung thực hiện đồng bộ các giải pháp ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát; tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy phát triển sản xuất kinh doanh; … nên các chỉ tiêu kế hoạch về phát triển kinh tế, xã hội, môi trường của tỉnh đều thực hiện đạt và vượt so kế hoạch của Nghị quyết đề ra.

Sản xuất nông lâm nghiệp và thủy sản

Cây lúa, diện tích gieo trồng đạt 161.855 ha, giảm 4,45%; sản lượng đạt 969,2 nghìn tấn, tăng 2,82% so với năm 2017. Diện tích gieo trồng giảm, nhưng sản lượng tăng do năng suất thu hoạch cao nhờ thời tiết thuận lợi, xuống giống tuân thủ lịch thời vụ, sử dụng giống lúa có nguồn gốc rõ ràng, chọn giống lúa cứng cây hạn chế đổ ngã, phẩm chất gạo và khả năng kháng sâu bệnh cao, ...

Diện tích gieo trồng cây màu cả năm 2018đạt 57.672 ha, tăng 3.391 ha so với năm 2017; chủ yếu tăng ở các loại cây: rau các loại tăng 1.766 ha, khoai lang tăng tăng 944 ha, ngô (bắp) tăng 168 ha, cói (lác) tăng 66 ha, diện tích cỏ làm thức ăn chăn nuôi tăng 428 ha, ... so với năm trước. Diện tích cây màu tăng khá cao do đặc điểm thời gian sinh trưởng ngắn, giá cả ổn định, kỹ thuật canh tác không quá khó, ... nhưng đạt hiệu quả kinh tế cao, giải quyết được lao động nông nhàn. Ngoài ra, gần đây phong trào nuôi bò phát triển và ổn định, diện tích trồng cỏ tăng mạnh đáp ứng nhu cầu cung cấp ổn định nguồn thức ăn chăn nuôi.

Sản lượng cây lâu năm đạt 565,5 nghìn tấn, tăng 2,13% so với năm trước; trong đó sản lượng trái cây đạt 440,9 nghìn tấn, tăng 2,29%. Nhờ áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, vườn cây lâu năm nhất là vườn cây ăn quả được xử lý ra hoa trái vụ đạt năng suất tương đương vụ thuận, cho hiệu quả kinh tế cao.

Không phát hiện bệnh tai xanh trên heo, các ổ dịch lở mồm long móng trên bò, heocúm gia cầm đã qua 21 ngày và không có dấu hiệu lây lan.Tại thời điểm 01/10/2018, tổng đàn bò của tỉnh có 92.881 con; đàn heo có 345,2 ngàn con; đàn gà có 5,29 triệu con; đàn vịt (không kể vịt chạy đồng) có 3,03 triệu con. So với thời điểm 01/4/2018, đàn bò giảm 0,21%; đàn heo tăng13,91%; đàn gà tăng 9,33%; đàn vịt tăng 2,68%. So với cùng thời điểm năm trước, đàn bò giảm 1,69%; đàn heo tăng3,31%;đàn gà tăng 5,15%; đàn vịt tăng 2,87%.

Sản lượng thủy sản nuôi trồng và khai thácđạt 126.255 tấn, tăng 7,6% so với năm 2017; trong đó thủy sản nuôi trồng đạt 119.443 tấn, tăng 7,84%. Riêng cá tra nuôi thâm canh đạt 80.699 tấn, tăng11,66%.

Sản xuất công nghiệp

Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 9,52% so với năm trước, trong đó ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục đạt mức tăng cao nhất (tăng 9,62%), đóng góp 9,15 điểm phần trăm vào mức tăng trưởng chung của toàn ngành; ngành sản xuất, phân phối điện, khí đốt tăng 6,45%, đóng góp 0,19 điểm phần trăm; cung cấp nước, quản lý và xử lý nước thải, rác thải tăng 11,6%, đóng góp 0,22 điểm phần trăm; riêng ngành khai khoáng giảm 7,99%, đã tác động kéo giảm IIP chung 0,04 điểm phần trăm.

Một số ngành công nghiệp chế biến, chế tạo có mức sản xuất tăng khá như: sản xuất sản phẩm thuốc lá tăng 59,53%; sản xuất đồ uống tăng 23,77%; sản xuất trang phục tăng 23,7%; sản xuất chế biến thực phẩm tăng 14,41%, trong đó sản xuất thức ăn gia súc, gia cầm và thủy sản tăng 16,95%; chế biến gỗ và sản phẩm từ gỗ, tre, nứa tăng 10,97%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 7,07%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 6,87%; ... Tuy nhiên, do khó khăn về nguồn nguyên liệu hoặc yếu thế cạnh tranh trên thị trường nên ngành sản xuất phương tiện vận tải khác giảm 25,48%; ngành sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất giảm 4,16% và ngành sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu giảm 3,82%.

Vốn đầu tư và xây dựng

Giá trị sản xuất xây dựngtheo giá hiện hành ước đạt 9.473 tỷ đồng, trong đó khu vực nhà nước đạt 104 tỷ đồng, chiếm 1,09%; khu vực ngoài nhà nước 9.369 tỷ đồng, chiếm 98,91%.Giá trị sản xuất xây dựng theo giá so sánh 2010tăng 5,18% so với năm 2017.

Tổng mức vốn đầu tư xây dựng cơ bản thực hiện thuộc kế hoạch vốn do Nhà nước địa phương quản lý ước thực hiện được 2.616 tỷ đồng, đạt 80,1% kế hoạch tăng 17,06%so với năm trước. Tiến độ thực hiện vốn cao hơn cùng kỳ năm trước 5,92 điểm phần trăm.

Tổng vốn đầu tư phát triển theo giá hiện hành ước thực hiện 13.016,4 tỷ đồng, đạt 100,13% kế hoạch năm 2018tăng 9,6% so với năm trước.

Có 07 dự án FDI được cấp phép mới và 01 dự án đăng ký bổ sung vốn với tổng số vốn là 88,2 triệu USD. So với năm 2017, số dự án được cấp phép mới tăng 05; số dự án đăng ký bổ sung vốn giảm 01; tổng số vốn đăng ký và vốn bổ sung giảm 29,06%.

Thương mại, dịch vụ và giá cả thị trường

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng đạt 45.741 tỷ đồng, tăng 11,64% so với năm 2017; trong đó bán lẻ hàng hóa tăng 10,94%, dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 13,99%, du lịch lữ hành tăng 16,9% và dịch vụ khác tăng 12,77%.

Tổng lượng khách du lịch theo tour đến tỉnh đạt 128,9 nghìn lượt, tăng 13,34% so với năm 2017; trong đó khách quốc tế 65,2 nghìn lượt, chiếm trên 50% tổng lượng khách và tăng 9,89%.

Tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 465,6 triệu USD, tăng 5,16% so với năm 2017. Hầu hết các mặt hàng xuất khẩu có quy mô lớn của tỉnh đều tăng với tốc độ khá cao, trong đó: Túi xách, ví, vali, mũ và ô dù tăng 66,61% đóng góp 3,91 điểm phần trăm; sản phẩm mây, tre, cói và thảm tăng 12,01% đóng góp 1,02 điểm phần trăm; giày dép các loại tăng 1,42% đóng góp 0,89 điểm phần trăm; gạo tăng 70,94% về lượng và tăng 86,9% về giá trị đóng góp 0,83 điểm phần trăm; ...

Sau một năm (tức tháng 12/2018 so với tháng 12/2017) CPI tăng 4,01%, cao hơn tốc độ tăng CPI cùng kỳ 0,69 điểm phần trăm. CPI bình quân năm 2018 tăng 4,88% so với năm trước.

Tài chính - ngân hàng

Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn ước thực hiện được 6.038 tỷ đồng, đạt 104,65% dự toán năm và giảm 12,94% so với năm 2017. Tổng chi ngân sách ước thực hiện được 8.127 tỷ đồng, đạt 97,29% dự toán năm và tăng 17,71% so với năm 2017.

Đến cuối năm, số dư nguồn vốn huy động tăng 13,03%, trong đó tiền gửi tiết kiệm chiếm 72,8% trên tổng số dư nguồn vốn huy động tăng 15,57%; tổng dư nợ cho vay tăng 10,53%, trong đó dư nợ cho vay trung dài hạn chiếm 45,9% tổng dư nợ cho vay tăng 11,4%; tỷ lệ nợ xấu chiếm 2,95% trên tổng dư nợ cho vaytăng 1,88 điểm phần trăm so với số đầu năm.

Một số vấn đề xã hội

Năm học 2017 - 2018: Bậc học mầm non tỷ lệ bé sạch, bé chăm, bé ngoan đạt yêu cầu cao; bậc tiểu học về mức độ hình thành và phát triển phẩm chất đạt 99,89% , về mức độ hình thành và phát triển năng lực đạt 99,90% và tỷ lệ hoàn thành chương trình bậc tiểu học đạt 99,99%; bậc trung học tỷ lệ học sinh phổ thông khá, giỏi tăng đều so với năm học trước, tỷ lệ học sinh yếu, kém có xu hướng giảm, tỷ lệ công nhận tốt nghiệp trung học cơ sở đạt 99,86%, giảm 0,11 điểm phần trăm, tỷ lệ tốt nghiệp 99,15%, giảm0,19 điểm phần trăm so với năm học trước

Các cơ sở y tế công lập đã tổ chức khám chữa bệnh cho 3,45 triệu lượt người, trong đó lượt người khám bảo hiểm y tế chiếm 84,4%. Số trẻ em dưới 1 tuổi được tiêm chủng đầy đủ đạt 105,83%, phụ nữ có thai tiêm VAT 2+ đạt 102,13%so với kế hoạch. Tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng dưới 5 tuổi xuống còn dưới 13%. Tỷ lệ người tham gia bảo hiểm y tế đạt 82%.

Thể thao thành tích cao, tham dự các giải thể thao trẻ, vô địch cấp khu vực, toàn quốc và quốc tế đạt 279 huy chương các loại (88 vàng, 88 bạc và 103 đồng); trong đó có 20 huy chương ở các giải quốc tế (07 vàng, 06 bạc và 07 đồng).

So với năm 2017, tai nạn giao thông đường bộ giảm 42 vụ, số người chết giảm 10, số bị thương giảm 45 người; tai nạn giao thông đường thủy số vụ không tăng giảm,số người chết giảm 01, thiệt hại tài sản tăng khoảng 1,26 tỷ đồng.

Thực hiện tốt chính sách đối với người có công và công tác an sinh xã hội. Tổ chức thăm viếng và tặng quà nhân dịp lễ, Tết cho các gia đình chính sách, các đối tượng bảo trợ xã hội.. Đưa 634 người có công đi điều dưỡng tập trung và cấp kinh phí  điều dưỡng tại gia đình cho hơn 3.387 người; vận động Quỹ Đền ơn đáp nghĩa gần 9 tỷ đồng, đạt 160,46% kế hoạch năm.Thực hiện Dự án “Hỗ trợ hộ nghèo chăn nuôi bò giống, nâng cao đời sống” giai đoạn 2017 - 2020; Hỗ trợ 166 căn nhà ở cho hộ nghèo theo Quyết định số 33/2015/QĐ-TTg; Hỗ trợ mua bảo hiểm y tế cho 100% người nghèo, cận nghèo và hộ mới thoát nghèo; Trợ cấp đột xuất 138 trường hợp với tổng số tiền 160 triệu đồng. Hỗ trợ học bổng, dụng cụ học tập, phương tiện đến trường, nhu cầu dinh dưỡng, phẫu thuật miễn phí một số bệnh, khuyết tật bẩm sinh, … cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, trẻ em thuộc hộ nghèo, cận nghèo. Hỗ trợ mua bảo hiểm y tế cho 100% trẻ em dưới 6 tuổi, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt.

* Nguồn: Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội năm 2018, Cục Thống kê tỉnh Vĩnh Long.

* Chi tiết xem tệp đính kèm: Tải về

Gửi bởi admin    

HỆ THỐNG TÊN MIỀN MẠNG GSO
MÁY CHỦ TÊN MIỀN .GSO:
Chính:       10.0.1.1
Dự phòng: 10.0.1.2
  • Góc người dùng
Tên đăng nhập:
Mật khẩu:



Bạn đang dùng -

IP:34.228.194.177

Thống kê

Lượt truy cập  22394
Đang trực tuyến   180